Đảng bộ huyện Na Rì lãnh đạo phát triển KT – XH trong 5 năm qua

 

          Nhiệm kỳ qua (2010 – 2015), mặc dù gặp nhiều khó khăn của một huyện vùng cao, nhưng Đảng bộ huyện Na Rì luôn đoàn kết, thống nhất, vượt qua mọi thách thức, lãnh đạo nhân dân giành nhiều thắng lợi trên tất cả các lĩnh vực: Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở đảng được nâng cao; chất lượng quản lý, điều hành của chính quyền từ huyện đến cơ sở chuyển biến rõ nét; quốc phòng, an ninh được giữ vững, quan hệ đối ngoại được mở rộng và nâng lên tầm cao mới; kinh tế phát triển, diện mạo nông thôn ngày càng khởi sắc…

          Để Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XVII đi vào cuộc sống, ngay từ đầu nhiệm kỳ, Ban Thường vụ, Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Na Rì đã xây dựng chương trình hành động, phân công nhiệm vụ cho từng đồng chí trong Ban Thường vụ phụ trách từng lĩnh vực; đồng thời hoạch định chiến lược với tầm nhìn đến năm 2020; xác định rõ hướng đi, mục tiêu phấn đấu cho từng giai đoạn, từng năm. Theo đó, cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XVII bằng chương trình, đề án phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn 2011 – 2015; đồng thời lựa chọn phần việc, nhiệm vụ trọng tâm, khâu đột phá để chỉ đạo thực hiện và kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc ngay tại cơ sở.

          Toàn Đảng bộ huyện Na Rì có 62 tổ chức cơ sở đảng, với 4.140 đảng viên, sinh hoạt ở 303 chi bộ. Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng luôn được các cấp ủy các cấp chú trọng tổ chức triển khai học tập, nghiên cứu, quán triệt đầy đủ các nghị quyết, chỉ thị và các văn bản của các cấp đến cán bộ, đảng viên tham gia học tập; các nghị quyết Đại hội và nghị quyết Hội nghị Trung ương đều được các cấp ủy xây dựng chương trình hành động và kế hoạch để lãnh đạo thực hiện. Đặc biệt, thực hiện Chỉ thị số 03 của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh việc “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, Đảng bộ huyện Na Rì đã chỉ đạo tổ chức triển khai, quán triệt nghiêm túc, đúng kế hoạch; 100% các chi bộ trực thuộc đã triển khai nội dung của chỉ thị và các chuyên đề hằng năm với trên 96,5% đảng viên tham gia học tập. Việc cụ thể hóa 7 chuẩn mực đạo đức theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh đã được các cơ quan, đơn vị, cơ sở cụ thể hóa, niêm yết tại trụ sở làm việc; đa số các tổ chức cơ sở đảng và cơ quan, đơn vị đã quan tâm, bố trí 1/3 thời gian sinh hoạt cho việc kể chuyện về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, qua đó, góp phần tạo sự chuyển biến về nhận thức, thay đổi lề lối làm việc, tinh thần phục vụ nhân dân của cán bộ, công chức, viên chức.

          Hằng năm, các tổ chức cơ sở đảng, cơ quan, đơn vị đều gắn việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh với việc thực hiện Quy định số 101 của Ban Bí thư Trung ương Đảng “Về trách nhiệm nêu gương vủa cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ chốt các cấp”; thực hiện phê bình, tự phê bình theo Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI)  “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” và gắn với nội dung đánh giá, phân tích chất lượng đảng viên, phân loại cán bộ, công chức, viên chức.

          Đảng bộ huyện Na Rì quan tâm làm tốt công tác xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền và củng cố hệ thống chính trị. Đảng bộ huyện thường xuyên tổng kết thực tiễn, bổ sung phát triển lý luận, giải quyết đúng đắn những vấn đề cuộc sống đặt ra; thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ và các nguyên tắc khác trong tổ chức và hoạt động của Đảng. Đổi mới phương thức lãnh đạo, phong cách và lề lối làm việc, tập trung hướng mạnh về cơ sở, ưu tiên đầu tư cho địa phương đặc biệt khó khăn và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên. Đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh gắn với thực hiện hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) về “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”. Điểm nổi bật trong việc nâng cao chất lượng công tác chính trị, tư tưởng, đó là: Các tổ chức cơ sở đảng trong Đảng bộ nắm chắc diễn biến tư tưởng cán bộ, đảng viên và nhân dân; phát huy vai trò của tổ tuyên vận động tại 233 thôn, tổ nhân dân và đội ngũ  báo cáo viên, cộng tác viên tuyên truyền; nâng cao chất lượng tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng. Đặc biệt, đẩy mạnh việc nêu gương, tự giác của người đứng đầu.  Công tác cán bộ có bước đột phá, đội ngũ cán bộ, đảng viên  ngày càng chuẩn hoá về chuyên môn và lý luận chính trị. Cả nhiệm kỳ huyện đã cử 82 đồng chí học sơ cấp lý luận chính trị, 126 cán bộ học trung cấp lý luận chính trị, 19 đồng chí đi học cao cấp lý luận chính trị. Tỷ lệ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp được đào tạo lý luận chính trị đạt 96,6%.

          Công tác kiểm tra, giám sát của cấp ủy các cấp được tăng cường theo chuyên đề và những nội dung, vấn đề được dư luận và người dân quan tâm, kịp thời điều chỉnh công tác lãnh đạo, điều hành của cấp ủy đảng, chính quyền cơ sở cho phù hợp và khắc phục những tồn tại, để xây dựng tổ chức Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh. Hằng năm có trên 85% tổ chức cơ sở đảng đạt trong sạch, vững mạnh; 98% số đảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên. Kết thúc nhiệm kỳ, 28/29 mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện khóa XXI đề ra đã hoàn thành và vượt mức, Đảng bộ 5 năm liên tục đạt trong sạch, vững mạnh.

          Trong phát triển kinh tế, huyện tập trung mạnh cho phát triển nông lâm nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, nâng cao chất lượng dịch vụ và quan tâm lao động nông thôn. Đối với sản xuất nông nghiệp, đầu tư phát triển cây lương thực theo hướng nâng cao giá trị thu nhập trên đơn vị diện tích canh tác; quy hoạch vùng sản xuất hàng hóa, mở rộng diện tích cây trồng, nhất là đối với các xã đặc biệt khó khăn. Các giống lúa có năng suất cao tiếp tục được nhân rộng ở các vùng có điều kiện thổ nhưỡng và chất đất tốt, như các xã: Côn Minh, Cư Lễ, Cường Lợi, Hảo Nghĩa…tiếp tục phát triển cây dong giềng, cây ngô lai, cây thuốc lá hàng hóa. Ngoài ra, nhiều cây trồng mới có giá trị cao được đưa vào thử nghiệm và nhân rộng như giống lúa mới, ngô mới… đã góp phần nâng hệ số sử dụng đất lên 1,8 lần và nâng cao giá trị canh tác.  Bên cạnh đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phát triển nghề truyền thống, huyện Na Rì quan tâm liên kết thực hiện bao tiêu sản phẩm cho nông dân như cây dong giềng, cây thuốc lá…. Hiện, toàn huyện có trên 50 hợp tác xã sản xuất và chế biến dong giềng. Tổng sản lượng lương thực đạt trên 32 nghìn tấn đạt so với mục tiêu Nghị quyết Đại hội; tỷ lệ hộ nghèo của huyện giảm qua các năm…

          Trong 5 năm qua, bình quân diện tích gieo trồng cây lương thực đạt 7.272ha/năm, so với đầu nhiệm kỳ tăng 303ha. Trong đó, cây lúa hằng năm gieo trồng được 3.730ha, năng suất bình quân đạt 45 tạ/ha, cây ngô trồng 3.541ha, năng suất đạt 45tạ/ha. Tổng sản lượng lương thực bình quân hằng năm đạt 31.580 tấn, so mục tiêu đại hội tăng 5,3%; bình quân lương thực (năm 2014) đạt hơn 810kg/người, so mục tiêu Đại hội tăng 32,2 kg/người/năm. Bên cạnh phát triển cây trồng chính là lúa, ngô đảm bảo an ninh lương thực, huyện triển khai trồng các loại cây màu, cây công nghiệp ngắn ngày đạt hiệu quả cao như cây thuốc lá, đỗ tương, gừng; đặc biệt về cây dong riềng đang là cây thế mạnh của địa phương được người dân trồng trên diện rộng và mang lại hiệu quả kinh tế thiết thực cho người dân. Lĩnh vực chăn nuôi tiếp tục được duy trì, phát triển; hiện có hơn 11.000 con trâu, bò, ngựa; hơn 39.000 con lợn; hơn 589.000 con gia cầm; đàn dê có 3.000 con. Cùng với đó, nhiều mô hình trình diễn, thí điểm về chăn nuôi như: mô hình nuôi gà thả vườn, đồi; nuôi lợn nái Móng Cái, sử dụng thức ăn ủ chua… mang lại hiệu quả kinh tế và được nhân dân hưởng ứng tích cực.  Công tác quản lý, bảo vệ rừng từng bước được tăng cường, ngăn chặn hiệu quả tình trạng chặt phá rừng trái phép; đặc biệt về công tác phát triển rừng đã đang được huyện chú trọng chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng nhằm đảm bảo đạt giá trị kinh tế cao như cây quế, lát, trám, mỡ, keo. Trong năm qua, toàn huyện đã trồng rừng được 7.740ha, nâng độ che phủ của rừng đạt 73%, so mục tiêu Đại hội tăng 5%.  Hoạt động sản xuất công nghiệp chủ yếu sản xuất cát, sỏi, đá phục vụ nhu cầu địa phương; tiểu thủ công nghiệp chủ yếu tập trung vào các ngành nghề sản xuất gạch nung, chế biến nông sản, lâm sản, dịch vụ may mặc, sửa chữa cơ khí nhỏ. Giá trị sản xuất năm 2014 đạt 15,7 tỷ đồng, tăng 126% so mục tiêu đại hội đề ra, giải quyết việc làm ổn định cho hơn 800 lao động địa phương.  Giá trị kinh doanh thương mại, dịch vụ bình quân cả nhiệm kỳ đạt hơn 224 tỷ đồng, so đầu nhiệm kỳ tăng 26%; riêng đối với dịch vụ vận tải phát triển khá nhanh, đáp ứng nhu cầu đi lại và phục vụ phát triển kinh tế của nhân dân; các doanh nghiệp trên địa bàn từng bước phát triển với các loại hình như: doanh nghiệp tư nhân (20 doanh nghiệp); 14 hợp tác xã sản xuất chế biến dong riềng; 5 hợp tác xã hoạt động lĩnh vực khác. Các doanh nghiệp và hợp tác xã đã tham gia tích cực vào khâu phân phối sản phẩm tại các xã vùng sâu, vùng xa; sức cạnh tranh từng bước được nâng lên góp phần quan trọng trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giải quyết việc làm, đóng góp cho ngân sách Nhà nước, từng bước khai thác tiềm năng thế mạnh của địa phương.  Hệ thống các ngân hàng đảm bảo các nguồn vốn vay cho các tổ chức, cá nhân trên địa bàn; đáp ứng nhu cầu vay vốn phát triển kinh tế của các hộ nghèo và đối tượng chính sách. Trong 5 năm qua, doanh số cho vay của các ngân hàng đạt hơn 630 tỷ đồng, tổng dư nợ ước đến năm 2015 là hơn 410 tỷ đồng, so năm 2010 tốc độ tăng trưởng đạt 224%. Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới trong những năm qua tiếp tục được triển khai sâu rộng, nhân dân cơ bản đã nắm được nội dung, ý nghĩa của chương trình và hưởng ứng tích cực.

          Song song với đầu tư phát triển kinh tế, lĩnh vực văn hoá – xã hội cũng được Đảng bộ huyện đặc biệt quan tâm, mạng lưới trường, lớp học không ngừng phát triển đồng bộ, đến nay huyện duy trì tốt công tác phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập THCS, tỷ lệ huy động trẻ em trong độ tuổi đến trường đạt 100 %, chất lượng dạy và học không ngừng được nâng lên, đội ngũ giáo viên đạt chuẩn chiếm trên 90 %.

          Công tác văn hoá – thông tin tuyên truyền cũng có nhiều chuyển biến tích cực, chất lượng hoạt động được nâng lên rõ rệt, hình thức tuyên truyền đa dạng, nội dung phong phú, qua đó kịp thời đưa chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đến với nhân dân các dân tộc trong toàn huyện. Bản sắc văn hoá tốt đẹp của đồng bào các dân tộc được duy trì và phát triển. Các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao luôn bám sát nhiệm vụ chính trị của huyện, các thiết chế văn hóa, hương ước làng, xóm được xây dựng, phong trào xây dựng gia đình, cơ quan, làng bản văn hóa được nhân dân đồng tình hưởng ứng. Đến nay, toàn huyện có 7.628/9.647 hộ gia đình đạt gia đình văn hóa, 144 thôn, tổ nhân dân đạt tiêu chí văn hóa và 131 cơ quan, đơn vị đạt văn hóa, kết quả phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” đều đạt và vượt mục tiêu đại hội đề ra. Công tác thông tin-tuyên truyền được mở rộng, đến nay 100% số hộ được nghe Đài Tiếng nói Việt Nam, 95% hộ dân được xem ti vi, 21 xã có trạm truyền thanh, được quản lý vận hành hoạt động hiệu quả. Công tác y tế chăm sóc sức khỏe công đồng luôn được quan tâm, không có dịch bệnh lớn xảy ra. Hệ thống y tế cơ sở được củng cố, kiện toàn, đến nay có 16/22 trạm y tế xã, thị trấn được đầu tư xây dựng kiên cố hoặc bán kiên cố; 15 xã đạt tiêu chí quốc gia về y tế, 70% số trạm y tế có bác sĩ. Thực hiện chế độ, chính sách bảo hiểm y tế toàn dân trong huyện đạt 100%; tỷ lệ trẻ suy dinh dương hiện còn 13,45%; tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi được uống vác xin đạt 95%; tỷ lệ phát triển dân số bình quân 0,9%/năm.

          Việc thực hiện chính sách xã hội được đảm bảo, giải quyết chế độ chính sách cho người có công, người có hoàn cảnh khó khăn được thực hiện theo đúng quy định. Thực hiện Chương trình giảm nghèo bền vững được quan tâm chỉ đạo sát sao với sự tham gia vào cuộc của các cấp, các ngành và được sự hưởng ứng tích cực của nhân dân nên đã đạt kết quả quan trọng. Đến năm 2014, tỷ lệ hộ nghèo trên địa bàn huyện còn 17,98%, giảm 28% so với thời điểm đầu nhiệm kỳ, bình quân mỗi năm giảm 7,01%, đạt so với mục tiêu Đại hội đề ra. Bên cạnh công tác trên, lĩnh vực lao động việc làm và đào tạo nghèo được huyện quan tâm, từ năm 2010 đến 2014 đã giải quyết việc làm cho 486 lao động; cùng với đó, chú trọng đào tạo nghề cho 2.121 người sát với thực tế nhu cầu lao động địa phương như: sửa chữa máy nông nghiệp, chăn nuôi, thú y…; cho vay giải quyết việc làm hơn 10 tỷ đồng với 721 dự án.

          Cơ sở hạ tầng nông thôn cũng phát triển khá mạnh, huyện đã tranh thủ các nguồn vốn của Trung ương, các nguồn vốn tài trợ triển khai thực hiện có hiệu quả các chương trình 134, 135 giai đoạn 2, Quyết định 167 của Chính phủ và các chương trình khác, đồng thời huy động các nguồn lực trong và ngoài tỉnh và thực hiện phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm” để xây dựng kết cấu hạ tầng, xoá nhà tạm, dột nát, đưa nước sạch về với đồng bào dân tộc thiểu số. Từ các nguồn vốn của Trung ương, địa phương và nguồn vốn khác, huyện Na Rì được đầu tư hơn 508 tỷ đồng để xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội. Huyện đã đầu tư xây dựng thêm được 74 công trình giao thông với 73km đường, 17 công trình thủy lợi với khả năng chủ động nước tưới tiêu 85ha ruộng; 19 công trình trường học, 2 công trình trạm xá, bệnh viện; 6 công trình trụ sở làm việc, 4 công trình nước sinh hoạt, 18 công trình điện điện lưới. Đặc biệt, huyện đã triển khai xây dựng khu tái định cư Khuổi Có ở thôn Khuổi Nộc, xã Lương Thượng, bố trí chỗ ở cho 44 hộ đồng bào Mông nơi đấy làm ăn sinh sống ổn đinh. Bên cạnh đó, ngoài nguồn vốn ngân sách, hằng năm huyện tích cực thu hút các nguồn tài trợ đầu tư xây dựng các công trình thủy lợi, giao thông, trường học, trạm y tế cho các xã, các thôn đặc biệt khó khăn được thực hiện có hiệu quả. Nhờ tiếp tục được quan tâm đầu tư nên kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội trên địa bàn huyện ngày càng phát triển. Đến nay, 100% xã có đường ô tô, trên 95% hộ được sử dụng điện lưới quốc gia sinh hoạt; 90% hộ được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh, các trường học trung tâm cơ bản được xây dựng cấp 4 trở lên, 100% xã, thị trấn có nhà trạm y tế, 100% xã có đường ô tô đi được thuận lợi… Nhiều công trình thủy lợi được xây dựng, cơn bản đáp ứng nước tưới cho 1.400ha đất sản xuất lúa 2 vụ.

          Công tác quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân được tăng cường. Đảng bộ huyện đã chú trọng đến công tác giáo dục chính trị tư tưởng, nâng cao cảnh giác cách mạng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân các dân tộc; đẩy mạnh nhiệm vụ “Xây dựng cơ sở an toàn làm chủ sẵn sàng chiến đấu” và phong trào “ Quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc”; chủ động phát hiện và ngăn chặn kịp thời mọi âm mưu phá hoại của các thế lực thù địch, giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội. 5 năm qua huyện luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ huấn luyện, diễn tập, tuyển quân. Cùng với lãnh đạo đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế – xã hội, tăng cường quốc phòng – an ninh, Đảng bộ huyện còn tập trung lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện công tác xây dựng đảng trên cả ba mặt: Chính trị, tư tưởng và tổ chức, gắn với việc triển khai sâu rộng “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Thông qua việc học tập, nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân không ngừng được nâng lên. Công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cơ sở được quan tâm, chú trọng đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với các tổ chức trong hệ thống chính trị. Chất lượng và hiệu quả hoạt động của HĐND, quản lý và điều hành của UBND các cấp được nâng lên, công tác dân vận của Đảng và chính quyền được tăng cường, hoạt động của MTTQ và các đoàn thể tiếp tục được đổi mới theo hướng sát cơ sở, thiết thực, hiệu quả. Việc triển khai thực hiện thí điểm mô hình nhất thể hoá Bí thư Đảng uỷ, kiêm Chủ tịch UBND bước đầu đạt kết quả tốt. Công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật trong Đảng không ngừng đổi mới, bằng nhiều phương pháp và hình thức phù hợp, chú trọng những khâu yếu, lĩnh vực quan trọng, dễ xảy ra vi phạm. Nhờ đó, 5 năm qua đảng bộ huyện có 80% tổ chức cơ sở Đảng đạt trong sạch, vững mạnh, không có tổ chức cơ sở Đảng yếu kém.

          Có được kết quả trên, trước hết là do Ban Chấp hành, Ban Thường vụ cùng các ban, ngành, đoàn thể từ huyện đến cơ sở có sự đoàn kết, thống nhất cao, năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm; có quan điểm đúng đắn, phương pháp lãnh đạo khoa học, phù hợp với tình hình thực tiễn của địa phương; coi trọng phát triển toàn diện, bền vững, trong đó gắn phát triển kinh tế – xã hội với củng cố quốc phòng, an ninh và xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh. Thực hiện phương châm “nói đi đôi với làm”, hướng mạnh về cơ sở; giữ vững nguyên tắc tập trung – dân chủ trong Đảng, thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở và phát huy sức mạnh đoàn kết các dân tộc trong huyện; đồng thời tranh thủ tối đa sự giúp đỡ của Trung ương, của tỉnh và sự đầu tư của các doanh nghiệp; đồng thời khai thác triệt để tiềm năng kinh tế và nguồn lực sẵn có ở địa phương.

          Năm 2015 là năm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là năm tổ chức Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ XVIII, nhiệm kỳ 2015 – 2020. Đại hội nhằm tổng kết thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XVII (nhiệm kỳ 2010 – 2015), đánh giá những mặt làm được, chưa được, nguyên nhân và đề ra Nghị quyết nhiệm vụ nhiệm kỳ 2015 – 2020… Xác định là năm “thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đảng bộ huyện lần thứ XVIII; chỉ đạo thành công đại hội các đảng bộ, chi bộ cơ sở tiến tới đại hội đại biểu đảng bộ huyện lần thứ XVIII nhiệm kỳ 2015-2020; tập trung phát triển kinh tế – xã hội, xây dựng xã nông thôn mới theo nghị quyết; đảm bảo an sinh, phúc lợi xã hội, thực hành tiết kiệm, phòng, chống tham nhũng, lãng phí; tăng cường quốc phòng, an ninh; xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh”. Trên cơ sở đó Đảng bộ huyện tập trung lãnh đạo, thực hiện tốt các yêu cầu, nhiệm vụ, mục tiêu chủ yếu, để giành thắng lợi bước đầu, tạo tiền đề vững chắc cho những năm tiếp theo xây dựng huyện Na Rì ngày càng giàu đẹp./.